HỌC SINH TỰ TRA ĐIỂM

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Võ Văn Chọn)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Images_23.jpg Diendanhaiduongcom19072_11.jpg Banner_201326.swf Ndtchua_ke1.swf Tangthay1.swf Vn.swf Khaitruong.swf MTKT.swf But_anh_ma_thuat.jpg Bonsai.jpg Co_gai_co_mot_bong_hong.flv Kho_tang_trong_tui_giay.flv CDDTRUONG21.swf Nharong21.jpg VND.swf Thay_co_oi.swf Bay_giua_ngan_ha.swf NMMTHUDIAB1.swf Flash_nen_181.swf 1276718025_sac_mau_cuoc_song__chong_chong_7_mau.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    TIN VĂN HÓA

    DỰ BÁO THỜI TIẾT

    Hà Nội: Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi Huế: Du bao thoi tiet - Co do Hue Phú Yên: Du bao thoi tiet - Tinh Phu Yen Thành Phố Hồ Chí Minh: Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh

    TRƠ VỀ TRANG CHỦ

    Chào mừng:

    " Chúc mừng năm học mới 2015 - 2016! Kính chúc quý Thầy cô, Bạn bè, Thành viên - Hạnh phúc - thành công!"

    Chào mừng quý vị đến với Website của Võ Văn Chọn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Truyện ngắn (mới) >

    Bóng vườn xưa

    Bóng vườn xưa - Truyện ngắn của HUỲNH THẠCH THẢO
    Lúc còn nhỏ, tôi sống ở xóm Vườn Trầu. Nơi ấy, trồng nhiều nọc trầu tươi xanh lá đang cùng từng hàng cau vươn ngọn, rập rờn ong bướm vào mùa thu ra hoa rụng trắng lối đi. Nội tôi là dân ngụ cư đến ở giữa xóm với mảnh đất rộng trồng cây ăn trái bao quanh hàng sầu đông tiếp giáp vườn người khác. Trước mặt là các thửa ruộng nối liền con đường đất của xóm Vườn Trầu có nhiều cây hoa cóc kèn la đà trên mương nước. 
    mh-090808.jpg
    Minh họa: HƯNG DŨNG

     

    Nội tôi là thầy thuốc Bắc trị bệnh nổi tiếng, ông từng theo học thầy Tham Thiên Đường ở Hải Phòng thời thuộc Pháp, lúc dầu Nhị Thiên Đường mới ra lò được nhiều người mến chuộng. Dù rời xa mảnh đất cũ dưới chân ngọn Chóp Chài nơi có những người học trò đi vào kháng chiến, dù ông bỏ làng đùm túm gia đình tìm đi nơi khác bởi những cuộc càn thì nơi xóm Vườn Trầu, thân chủ vẫn lần lượt tìm đến. Mảnh vườn rộng được phân cho bà con tản cư nên có thêm vài ngôi nhà tranh dựng tạm trong khoảng xanh rợp mát, trong mỗi chiều lãng đãng từng sợi khói lam mỏng manh lan tỏa và tối tối, những ngọn đèn dầu tỏa sáng quanh tiếng học bài của những ông chú; tiếng cối giã thuốc đều đặn trong ngôi nhà ngang của nội, tiếng trò chuyện của dì, của má, của bà. Ba tôi đã đi xa, má ngày ngày trở về làng ngoại với mảnh ruộng để cày cấy. Tôi cùng đám bạn đầu trần, chân đất, mũi dãi lòng thòng chạy nhảy khắp vườn. Cây khế cụt ngọn có tổ ong bị phá nát, trái dập tơi tả; những cây ổi sai quả in hằn dấu chai trên từng chạng cây; những trận đánh giả bằng bẹ chuối và những cục đất sét nắn tròn hay mãng cầu non tràn cả lên sân gạch có những cây kiểng lâu năm của nội, để nhận những ngọn roi quắn đít khi má trở về. Và tôi lại cùng lũ trẻ lang thang qua các gò bãi tìm hái chim chim, dúi dẻ chín vàng; lật sấp những viên đất cày tìm dế. Những trò nghịch ngợm của tôi tăng dần theo tuổi cùng những trận đòn của má, của nội nơi khu vườn rợp mát. Rồi chiến tranh lan đến, khốc liệt hơn bởi nhiều đêm tôi choàng dậy trong tràng đạn lửa xối xả, đỏ lừ quét ngang dọc ngoài cánh đồng. Tôi chạy theo má ra hầm trú ẩn trong ánh sáng chập chờn của đèn dù treo lơ lửng, tiếng toang toác vỡ bục vì những mảnh đạn găm vào thân cây, găm vào chậu kiểng, tường nhà với mùi khói khét lẹt. Bạn tôi có đứa đã chết vì đạn lạc, có đứa còn in hằn nỗi kinh hoàng khi cha nó bị giết nơi cầu Đúc vào xóm Vườn Trầu. Vườn nhà tôi lính ập vào băm nát, tơi tả hoa cau, quăng quật thân dừa và cả xóm đã đi vào cuộc chiến khi lá trầu xanh và những ngọn cau đã dần cụt ngọn. Học trò của nội dần tản mát, từng nia thuốc Bắc hong nắng phải thu dọn, ngọn đèn học dần hạ thấp ngọn, tiếng nói thầm thì chen trong tiếng pháo cầm canh vọng về. Lúc này, tôi chỉ đi thơ thẩn trong vườn nhà với những gốc cây hằn in dấu đạn và chiều chiều nhìn ra cánh đồng đã vắng những đàn cò chao cánh đáp xuống lũy tre. Một chiều, tôi ôm cặp sách từ trường tiểu học cộng đồng về nhà thì thấy ở sân vườn có một người đang quét lá, dáng chị nghiêng nghiêng người thon mảnh chao theo từng nhát chổi tre với mái tóc bới gọn trong chiếc kẹp ba lá. Nghe tiếng chân, chị ngẩng nhìn vừa lúc nội thăm bệnh ở xóm về, nói: “Chị Tâm ngoài Hòn vào”. Chị cười với đôi mắt đen láy cùng cánh mũi thanh tú lấm tấm mồ hôi. Ngoài Hòn, đó là nơi chập chùng sóng biếc. Chị Tâm vào học y tá do cô tôi dạy, ngoài giờ học chị thường giúp tôi hong thuốc. Nhìn bàn tay khéo léo bên những chiếc nia sắp gọn ghẽ với nụ cười nửa miệng kèm theo lúm đồng tiền trên má và cả những giọt mồ hôi lóng lánh nơi trán trông chị thật đẹp. Tôi chỉ gói Đan Tâm bảo “Tên chị đấy”, chị cười và chỉ phía nong thuốc “Còn tên em nè!” khiến cả hai cười sặc trong nắng ban mai. Hè đến, má tôi đi dài ngày bên ngoại, tôi biết má có việc gì đó bởi đâu phải vụ mùa vì đồng đang trơ gốc rạ. Lâu lâu có người lạ đến tìm để đêm đêm má đọc những tờ giấy bên ánh đèn dầu mà cứ nghĩ rằng tôi đã ngủ say. Hôm sau má lại tất tả về ngoại với quang gánh nặng trĩu. Tôi lại sang chị Tâm, hai chị em đi hái ổi hay ngóng mắt tìm mãng cầu chín hoặc có khi chị đưa tôi rảo quanh xóm để đến nhà người bệnh. Chị Tâm kể, nhà chị nghèo lắm dù ở một vùng biển đẹp, lắm cá tôm và những vườn dừa trải dài luôn soi bóng biển. Các ông chú ở xa đến trọ cũng vậy nên thường xách cần ra bầu súng kiếm cá. Tôi hay cùng chị tìm hoa súng đem về làm gỏi cho nội nhắm rượu. Bầu súng rộng um tùm lau sậy bên các gốc đa sần sùi tiếp giáp những lô cốt của lính bảo vệ nội ô phố thị. Chị Tâm chống xuồng roàn roạt vượt qua những đám lục bình dày dặc khiến các chú tôi đang câu phải ngẩn người trên bờ nhìn theo một mái tóc dày búi gọn, một vòm ngực nhỏ nhô đều trong mỗi nhịp chèo với nụ cười dưới vành nón lá. Mỗi lần lên bờ với bó hoa súng vàng rực. Các chú vội ném cần chạy đến để kéo xuồng cho chị và trêu chọc để hôm ấy tôi về méc nội. Nơi cánh phản góc hiên mát rượi dưới tàn ô mai chớm nụ, chiếc roi mây của nội được dịp tung hoành trên đôi mông các chú cùng tiếng cười rúc rích của chị ở ngoài vườn xanh nắng. Nhưng rồi tôi cũng không ngờ có một kẻ đáng gờm đang dõi theo chị ở mỗi nhịp chèo, cả những lúc khuất mình trong đám lau lách, đó là gã lính phía lô cốt quan sát hai chị em. Rồi gã đến vườn nhà trong sự ngạc nhiên của mọi người. Bình thản, tự tin gã nện gót giày cồm cộp lúc chị co rúm nơi góc bếp. Các chú tôi lãng dần, mất hẳn những đêm trăng sáng nơi vườn nhà rộn tiếng nói cười và cả bầu súng hoa vàng… Chị Tâm về quê nơi có sóng biển vỗ về mặt cát một thời gian. Tôi thẫn thờ mỗi khi chiều đến để ngày chị lên, tôi mừng phát khóc thì chị lại trầm buồn. Mùa sầu đông trổ hoa trắng khắp vườn nhà, gió lạnh đồng xa thổi về trong rét buốt, tôi cùng chị co ro tìm hái nơi giậu mồng tơi những quả tím sẫm để làm mực cho đêm chị viết bên ánh đèn khuya vặn nhỏ. Một lần má về ngoại không về. Đêm ấy, vào khuya gió đập mái tôn cùng nhánh keo bên hông nhà quật vào ô cửa phát tiếng kêu rờn rợn, tôi nghĩ đến những bóng ma chập chờn nhảy múa mà mọi người từng kể nên bung chăn và lần mở cửa. Vườn cây hiu hắt với những cành nhánh đen sẫm đang chao qua, đảo lại. Tôi lần đến dãy nhà ngang thì cửa đóng nên vượt qua giậu mồng tơi sang nhà cô tôi nơi có chị Tâm. Cửa phòng chị không cài then, qua ánh đèn vặn nhỏ hạt đậu mờ mờ, tôi lần đến đầu giường của chị để nhận ra mặt giường trống không. Tôi sửng sốt vì sợ đến tê người. Mãi lúc lâu tôi mới quay về nhà má; chặng đường trở lại tôi dúm cả người vì phải đi một mình giữa đêm khuya. Khi ngang giậu mồng tơi tôi ngã dúi dụi nên mở bừng mắt và chợt thấy chị ngồi nơi gốc ổi với một người lạ. Nỗi sợ tan biến, tôi ứ nghẹn cổ khi nghĩ gã lính nơi trạm gác ngày nào đang ngồi ở phía xa kia cùng chị. Tôi về lẳng lặng đóng cửa, trùm kín người và bịt chặt hai tai để trong giấc ngủ chập chờn tôi thoáng nghe trong gió, trong tiếng cành cây va quệt có tiếng của chị khẽ gọi đến da diết. Hôm sau, tôi quay mặt khi thấy chị dù chị đến bên nhỏ nhẹ cũng như lắc đầu khi chị rủ ra vườn hái ổi. Tối đến, má lại chưa về để nỗi lo âu của tôi tăng dần nên định lên nội ngủ nhờ. Lúc cuộn mền thì chị bước vào ôm chầm lấy tôi dù tôi vùng vẫy. Tôi quay mặt vào tường khi chị nằm bên hát nho nhỏ và vuốt nhè nhẹ lên mái tóc đen nhẻm của tôi để tôi chìm dần vào giấc ngủ. Hôm sau, trời còn mờ sương, tôi xin nội lên đầu dốc cát để tiễn chị về quê. Chị hẹn trước tết sẽ vào và cùng tôi ra bầu hái bông súng. Tôi chờ, chờ mãi, để rồi tiếng súng càng rộ dần và trong giao thừa năm mới tôi hỏi chị Tâm thì má lắc đầu. Vài ngày sau, tiếng súng đã ngưng, lúc mọi người thì thào to nhỏ, tôi nghe chị đã mất và tôi hỏi má lần nữa thì chỉ thấy người đỏ hoe mắt. Năm ấy, tôi đã bỏ áo mới, rung mạnh cành mai vàng cho hoa lả tả mặt thềm rồi chạy thẳng ra bầu súng gọi tên chị trong tiếng cuốc kêu thảng thốt cùng gió lồng lộng thổi về. Đã gần bốn mươi năm trôi qua trong dòng đời cuộn chảy. Tôi theo má rời xóm Vườn Trầu sau lúc chị Tâm mất bởi cuộc chiến quá khốc liệt. Vườn cũ đã thay đổi hẳn bởi quy hoạch của thành phố. Đâu còn cây keo già rủ bóng mát, đâu còn hàng sầu đông và cả bầu súng đã cạn nước. Tôi từng vào ngành Y và học tiếp một ngành khác như nửa cuộc đời dành cho chị Tâm và nửa cuộc đời sẽ dành cho tôi. Nhớ lần thực tập môn Đông dược tôi thẫn thờ khi nhìn thấy lại những vị thuốc ngày ấy nơi vườn cũ và bóng chị thấp thoáng bên giậu mồng tơi thuở nào. Tôi đã trở lại nơi xóm Vườn Trầu trong một ngày cuối năm. Hôm ấy, có những đợt mưa phùn kéo dài trên hàng tre già ủ rũ. Dừng nơi cổng sắt kiên cố với tường xi măng chạy dài, định bấm chuông thì chợt trông thấy một người đàn ông đứng sau lưng mình. Có lẽ khách của anh tôi nên tôi chẳng để ý thì nghe tiếng nói khẽ “Xin lỗi, phải cậu Hoàng”. Tôi ngạc nhiên nhìn lại người đàn ông thấp đậm rồi gật. Ông ta ấp úng “Tôi là bạn của Tâm ngày trước…”. Tôi mừng rỡ đưa ông vào quán nước và câu chuyện của chị Tâm lại tiếp nối sau bao nhiêu năm… …Trước khi lên cứ, Tâm phải vào trong này để học y tá, cha Tâm là học trò của nội cậu sau đi kháng chiến rồi ra Bắc. Tôi được giao móc nối cơ sở và phải gặp Tâm trong vườn nhà cậu. Tâm quý cậu lắm đến nỗi khi ở dưới này rồi lên cứ đều nhắc tên cậu, nói phải chi đưa cậu đi theo thì hay biết mấy. Tâm ở cứ không lâu rồi hy sinh khi gần đến ngày ra Bắc. Cái lần về ngoài Hòn, lúc vượt qua con dốc cao để đến trảng tranh làng Phú Thạnh thì vướng mìn địch phục kích. Trong ánh trăng non chênh chếch với tiếng nổ cấp tập thì chúng tôi được lệnh rút nhưng Tâm phải quay lại tìm thương binh. Cô ấy đã ngã xuống do vấp phải mìn địch cài chặn hướng rút. Chúng tôi đưa Tâm lên quả đồi có nhiều hoa sim tím dưới những bụi chà rang xào xạc trong gió. Mãi đến sau này, mới đưa Tâm về lại nghĩa trang quê nhà.. Người đàn ông nhìn mãi chiếc ly đã tan hết đá lững lờ vỏ chanh trôi nổi. Tôi thở dài nhìn ra mưa bụi cùng nỗi nhớ chị Tâm lúc ông ấy thì thầm bên cạnh “Tôi là người lính từng ở lô cốt nơi xóm Vườn Trầu, biết cậu lúc còn rất nhỏ. Nơi này tôi cảm nhận tình yêu với một người con gái và cảm phục cô ấy vào lúc gian khổ nhất. Bây giờ tôi phải ra mộ Tâm ngoài làng…” 

    Người đàn ông đứng lên cáo từ. Chèn tờ giấy bạc dưới ly, tôi vội vã bước theo ông ta bỏ lại phía sau một bóng vườn xưa trong mưa bụi phủ mờ.


    Nhắn tin cho tác giả
    Võ Văn Chọn @ 07:02 12/08/2009
    Số lượt xem: 793
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến